Ngân hàng phải trích dự phòng đầy đủ trước khi chia lợi tức cho cổ đông

ngày 24/01/2015

 Trao đổi với ĐTCK, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Phước Thanh cho rằng, để đảm bảo hoạt động được an toàn, các ngân hàng cần trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, cho dù lợi nhuận còn lại không nhiều để chia cổ tức cho cổ đông. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để tiến tới mục tiêu kiểm soát nợ xấu ở ngưỡng 3% vào cuối năm 2015.

Ngân hàng phải trích dự phòng đầy đủ trước khi chia lợi tức cho cổ đông

NHNN đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho năm 2015 ở mức 13 - 15%, theo ông, sức hấp thụ vốn của nền kinh tế năm nay có khơi được dòng chảy tín dụng?

Tình hình kinh tế, thị trường, trong đó có thị trường bất động sản đang ấm dần, là dấu hiệu tốt để kích thích tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa tín dụng sẽ tăng trưởng ồ ạt. Sức hấp thụ vốn của nền kinh sẽ tốt hơn trong năm 2015, song khó kỳ vọng có sự thay đổi đột biến do sức cầu của nền kinh tế vẫn yếu và kinh tế thế giới vẫn đang gặp nhiều khó khăn.

Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 13 - 15% NHNN đưa ra cho năm nay, theo tôi, không phải là mục tiêu cao mà ở mức phù hợp với thị trường, tình hình kinh tế. Mặt bằng lãi suất cho vay cũng dần được các ngân hàng giảm xuống, nhằm khơi dòng tín dụng.

Mục tiêu của NHNN là kiểm soát nợ xấu ở mức 3% vào cuối năm 2015
Có nghĩa, việc “siết” lại dòng vốn ở những lĩnh vực phi sản xuất, chẳng hạn như chứng khoán, bất động sản… là mục tiêu khi NHNN không lùi thời hạn áp dụng Thông tư 36?

Quan điểm của NHNN là không khuyến kích các NHTM ồ ạt đẩy mạnh tín dụng vào các lĩnh vực phi sản xuất, nhất là với chứng khoán, bất động sản, để từ đó tạo ra dòng vốn đầu cơ, đầu tư ảo, trong khi để chứng khoán, bất động sản phát triển bền vững cần thiết có nguồn tiền thực, chứ không phải chỉ trông chờ nguồn vốn tín dụng. Điều này sẽ đem lại hậu quả khó lường.

Thực tế cho thấy, tăng trưởng tín dụng những năm trước khủng hoảng đã có thời điểm lên rất cao và hiện tại cũng có thể thấy được các tác động từ việc này, đó là nợ xấu tăng. Do đó, để hoạt động của ngân hàng được lành mạnh, đảm bảo an toàn, tôi cho rằng, không có lý do gì để trì hoãn việc áp dụng các quy chuẩn mới tại Thông tư 36 hướng tới thông lệ quốc tế. Các quy định của Thông tư 36 không chỉ nắn dòng tín dụng vào lĩnh vực hiệu quả, mà dần loại bỏ được yếu tố sở hữu chéo trong hệ thông ngân hàng, nâng chuẩn quản trị.

Mục tiêu của NHNN sẽ kiểm soát nợ xấu dưới 3% vào cuối năm 2015, liệu có khả thi? Theo ông, cần có những giải pháp nào để thực thi được điều này?

Năm 2015, Quốc hội giao nhiệm vụ cho Chính phủ là đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới 3%. Đó cũng là mục tiêu của NHNN trong việc nỗ lực kiểm soát nợ xấu của ngành năm nay. Sau gần 3 năm thực hiện đề án xử lý nợ xấu, NHNN đã chỉ đạo các TCTD thực hiện các biện pháp để xử lý nợ xấu như: đôn đốc khách hàng trả nợ; bán, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; bán nợ cho các tổ chức, cá nhân; xử lý bằng dự phòng rủi ro... Bên cạnh đó, vai trò của VAMC cũng từng bước phát huy tác dụng. Có thể trước mắt, việc xử lý qua VAMC chưa đạt được như mong đợi, nhưng kỳ vọng trong thời gian tới sẽ cải thiện.

Theo đó, trước hết, cần tập trung hoàn thiện khung khổ pháp lý, tạo thuận lợi cho việc xử lý nợ xấu, nhất là quy định về mua, bán, xử lý nợ, tài sản bảo đảm, trách nhiệm của người đi vay và quyền hạn của chủ nợ. Mặt khác, phải sớm hoàn thiện chức năng, tăng cường tiềm lực tài chính, nâng cao năng lực, phát huy vai trò của VAMC cũng như phát triển mạnh thị trường mua bán nợ, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia mua bán nợ xấu.

Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2015 ở mức 3% trên tổng dư nợ cho vay của hệ thống các TCTD, thời gian tới, NHNN tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các TCTD, kiên quyết xử lý pháp nhân đối với đơn vị yếu kém, kể cả phải sử dụng biện pháp giải thể, phá sản, can thiệp bắt buộc.

Các ngân hàng đã và đang nỗ lực xử lý nợ xấu bằng nhiều cách, nhưng xem ra giải pháp mạnh tay trích dự phòng rủi ro mới là hiệu quả thực sự, thưa ông?

Tình hình kinh tế khó khăn, nợ xấu tăng, trong khi bất động sản giảm mạnh cùng với thủ tục phát mãi nhiêu khê, nên việc thu hồi nợ bằng phát mãi tài sản đảm bảo (chủ yếu là bất động sản) chưa thể kỳ vọng nhiều. Việc bán nợ xấu cho VAMC được xem là giải pháp giúp ngân hàng có thể “làm sạch” bản cân đối kế toán. Tuy nhiên, sau khi bán nợ cho VAMC, ngân hàng vẫn phải trích dự phòng 20% cho trái phiếu đặc biệt nhận lại trong vòng 5 năm và thu hồi nợ xấu. Nói cách khác, bán nợ xấu cho VAMC là một giải pháp giúp các ngân hàng đẩy mạnh tái cơ cấu sau khi sáp nhập, hợp nhất, làm giảm áp lực về tài chính. Do đó, yêu cầu trước hết đối với các TCTD là phải trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ xấu, nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động.

Con số dự phòng rủi ro của các NHTM năm qua lên đến 60.000 - 70.000 tỷ đồng đã cho thấy điều đó. Tuy nhiên, nếu ngân hàng thu hồi được nợ xấu, khoản dự phòng này sẽ được hoàn nhập vào lợi nhuận kỳ sau. Vì vậy, cùng với những giải pháp trên, để đạt được mục tiêu kiểm soát nợ xấu về 3%, NHNN yêu cầu các TCTD công khai, minh bạch về nợ xấu và kết quả xử lý nợ; thực hiện các giải pháp kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu gia tăng; tăng cường thanh tra, giám sát nợ xấu, chất lượng tín dụng và việc thực hiện các quy định pháp luật về phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro đầy đủ.

Ông đánh giá như thế nào về tình hình hoạt động, lợi nhuận của ngành năm nay?

Các NHTM vẫn phải giải quyết bài toán thanh khoản dư thừa ngắn hạn, dẫn đến cạnh tranh khốc liệt trong việc cho vay, hạ lãi suất vay, khiến biên lợi nhuận thu hẹp. Điều đó cũng có nghĩa, lợi nhuận của các ngân hàng năm nay khả năng sẽ còn khó khăn hơn năm 2014. Thậm chí, nếu cạnh tranh bằng mọi giá và không lành mạnh có thể tạo ra các khoản lỗ, nợ xấu tăng cao. Vì vậy, nếu các ngân hàng không kiểm soát rủi ro, nợ xấu cao đòi hỏi dự phòng lớn, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận.

Lợi nhuận thấp, một số ngân hàng vẫn lên kế hoạch chia cổ tức cao năm nay để thu hút cổ đông, nhà đầu tư góp vốn. Ông có nhận định gì về vấn đề này?

Có thể trong mùa ĐHCĐ năm nay, một số TCTD vẫn đưa ra tỷ lệ cổ tức cao hơn so với mặt bằng lãi suất tiết kiệm. Nhưng theo tôi, nếu có cũng chỉ là vài trường hợp cá biệt và chưa hẳn dễ thực hiện trong bối cảnh kinh doanh không còn nhiều thuận lợi như trước, đặc biệt là khi mọi nguồn lực đều phải dành để trích lập dự phòng rủi ro, xử lý nợ xấu.

NHNN đã có chỉ đạo các TCTD phải trích lập đầy đủ dự phòng trước khi nghĩ đến việc chia lợi tức cho cổ đông. Vì thế, trong bối cảnh thị trường khó khăn, việc cổ đông kỳ vọng cổ tức cao là rất khó, thậm chí là không có với những ngân hàng đang trong quá trình tái cơ cấu. Tuy nhiên, tôi cho rằng, điều đó cũng hợp lý trong lúc này.

Việc thực hiện các chuẩn mực mới của Thông tư 36, kéo theo làn sóng thoái vốn, thúc đẩy M&A, điều đó có nghĩa các thương vụ M&A ngân hàng sẽ sớm được NHNN thông qua, thưa ông?

Các quy định “siết” tỷ lệ sở hữu chéo đối với các ngân hàng trong Thông tư 36 sẽ là tiền đề cho việc loại bỏ sở hữu chéo, làm lành mạnh hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng sẽ có lộ trình 1 năm thoái vốn về mức quy định tối đa 5% theo Thông tư 36. NHNN sẽ cố gắng hoàn thiện khung pháp lý, phê duyệt các thương vụ M&A trong 6 tháng đầu năm. Vì vậy, các thương vụ sáp nhập đã được chấp thuận về mặt chủ trương cũng sẽ sớm được NHNN thông qua để tiến hành M&A trong năm nay.

Nguồn Tin nhanh chứng khoán